THIẾT KẾ QUẦN ÁO: ĐẶC ĐIỂM HÌNH DÁNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐO CƠ THỂ (P1)

I.  ĐẶC ĐIỂM HÌNH DÁNG CƠ THỂ NGƯỜI

  1. Đặc điểm hình dáng bên ngoài của cơ thể người

Hình dạng bên ngoài của cơ thể người liên quan rất nhiều với phương pháp thiết kế và tạo dáng quần áo.

Chúng ta đã biết, hình dạng và kích thước cơ thể người phụ thuộc vào hình dáng và kích thước của hệ xương, phụ thuộc vào cấu tạo và liên kết của hệ cơ và hệ xương, đô lớn và sự phân bố các bắp cơ và các lớp mỡ dưới da, cuối cùng là lớp mỡ dưới da, lớp da bao bọc bên ngoài thân người, che kín các đầu chồi lên của xương và sự nổi cuộn của các cơ tạo cho thân hình có môt bề mặt cong dều.

Nếu quan sát theo chiều dọc, cơ thể người được phân ra hai phần rõ rệt: phần trên và phần dưới cơ thể, ranh giới giữa hai phần là đường ngang eo. Nếu nhìn chính diện, hình dạng cơ thể người dối xứng một cách tương đối qua mặt phẳng giữa và cơ thể được chia làm hai nửa: trái và phải.

Khi xem xét hình dáng ngoài cơ thể, liên quan đến việc thiết kế quần áo, người ta chia thành các phần sau: đầu, cổ, vai, ngực, bụng, lưng, mông, tay và chân. Sau đây chúng ta lần lượt xem xét hình dạng của từng phần.

  • Đầu

Đầu thường có dạng hình trứng. Hình dạng và kích thước của đẩu phụ thuộc rất nhiều vào hình dạng và kích thước của hộp sọ. Khi thiết kế quần áo, người ta quan tâm nhiều đốn các kích thước của phần đầu như chu vi đầu, rộng đầu, dài đầu, rộng mật, dài mật.

  • Cổ 

Phần cổ được tính từ dưới hộp sọ dến đốt sống cổ thứ 7. Hình dáng của cổ gần như hình trụ nghiêng về phía trước, đường kính vòng cổ lớn nhất là trên đường chân cổ. Độ cao cuả cổ phụ thuộc vào dộ dốc của vai, vai càng xuôi thì cổ càng cao và ngược lại.

  • Vai

Phán vai dược lính là phần nằm phía trên ngực, từ chân cổ tới khớp mỏm cùng của xương bả vai. Nếu nhìn chính diện, đường vai của cơ thể có độ dốc từ điểm chân cổ xuôi xuống khoảng giữa của đường vai, đoạn còn lại ra tới mỏm cùng vai gần như nằm ngang. Khi nhìn từ trên xuống, đường vai có tư thế vươn về phía trước, ở cơ thể nam giới độ vươn này nhiều hơn cơ thể nữ.

>>> Xem thêm: Kiến thức thiết kế quần áo cơ bản: Quần áo là gì?

  • Ngực

Hình dạng của ngực phụ thuộc vào xương lồng ngực và sự phát triển của các cơ trên phần ngực. Ngoài ra, hình đáng của ngực còn phụ thuộc vào cả giới tính và lứa tuổi. Đối với cơ thể nữ, bên trẽn cơ ngực còn có bầu ngực, bầu ngực của nữ được chia làm 4 loại cơ bản: dạng hình chén, dạng bán cầu, dạng hình chóp và dạng chảy xệ. Ngực trẻ em thường lồi và tròn ngực hơn người lớn.

  • Bụng

Phần bụng được giới hạn phía trên bởi 2 cặp xương sườn tự do và đầu dưới xương ức, phía dưới được giới hạn bởi hai xương cánh chậu. Hình dáng và kích thước phần bụng lại phụ thuộc rất nhiều vào giới tính, lứa tuổi, độ lớn lớp mỡ phần bụng và tỷ lệ giữa xương lồng ngực và xương chậu. Bụng nữ giới thường cong tròn và hơi lồi lên ở phía dưới, còn bụng nam giới thì dẹt hơn và hơi lồi lên ở phía trẽn. Bụng trẻ em thì tròn, lồi và đẩy về phía trước. Những người trung niên, do xuất hiện lớp mỡ dưới da nên kích thước bụng tăng lên và phình to ra.

  • Lưng

Phần lưng (đốt sống thắt lưng sô’ 5) nằm ở phía sau cơ thể và được tính từ đốt sống cổ thứ 7 tơi ngang thắt lưng. Hình dáng lưng phụ thuộc tư thế và hình dạng của cột sống, mức độ phát triển của các cơ phần lưng. Ở phần trên lưng rộng hơn phần dưói. Khi nhìn nghiêng, lưng lồi ra ở phần ngang bả vai, lõm vào ở phần thắt lưng.

  • Mông

Phần mông nằm ở phía sau cơ thể, từ thắt lưng đến hết xương cùng. Hình dạng và kích thước của phần mông phụ thuộc vào hình đáng kích thước xương chậu và sự phát triển của các cơ phẩn mông. Thông thường mông phụ nữ lởn hơn và thấp hơn mông nam giới.

  • Tay

Phần tay được tính bắt dầu từ mỏm cùng của xương bả vai đến hết đốt 3 của ngón giữa. Tư thế của tay thường hơi đưa về phía trước và tạo thành một góc giữa phần cánh tay và phần cẳng tay.

  • Chân

Phần chân là phần tiếp phía dưới xương chậu. Hình dạng của phần chân phụ thuộc rất nhiều vào hình dạng của các xương chi dưới.

     2. Sự khác biệt hình dáng bên ngoài cơ thể người theo lứa tuổi

Hình dáng ngoài và kích thước của cơ thể người khác nhau rất nhiều theo lứa tuổi. Khi nghiên cứu hình dáng ngoài của cơ thể người theo lứa tuổi để phục vụ thiết kế quần áo, người ta thường chia thành các giai đoạn sau:

  • Thiếu nhi bé: thường được tính từ khi mới sinh cho đến khoảng 2 tuổi rưỡi.

Trong giai đoạn này cơ thể trẻ phát triển mạnh về chiều cao (sau 1 năm, chiều cao có thổ tăng gấp rưỡi). Thân hình tròn trĩnh, bụ bẫm, đầu to, chi ngắn, thân đài, ngực và bụng tròn, lưng thẳng, độ cong cột sống chưa rõ ràng.

  • Thiếu nhi trung bình: thường là trẻ từ 2 tuổi rưỡi đến 7 tuổi.

Tốc độ phát triển của cơ thể trẻ em chậm hơn giai đoạn trước. Tỷ lệ cơ thể theo chiều dài đã gần với cơ thể người lớn hơn. Đầu vãn tương đối to, thân dài, chi ngắn.

  • Thiếu nhi lớn: thường là trẻ từ 7 tuổi cho dến khoảng 10 đến 11 tuổi đối với trẻ em gái và khoảng 12 dến 13 tuổi dối với trẻ em trai (tức là cho đến khi bát dầu xuất hiện những dấu hiệu đầu tiên của tuổi dậy thì).

Cơ thể trẻ có vẻ “gầy di” và phát triển nhiều về chiều cao, đặc biệt là chi dưới, ít phát triển về bề ngang. Kích thước đầu hầu như không tăng nữa. Ngực bắt đầu bè ngang, bụng bé lại, vai nở ra.

  • Thiếu niên: tính từ lúc trẻ bắt dầu tuổi dậy thì đến hết dậy thì (khoảng 15-16 tuổi đối với nữ và 17-18 tuổi đối với nam). Chiều cao cơ thể phát triển mạnh (mỗi năm chiều cao tăng 7 + 8cm) chủ yếu do chi dưới dài ra rất nhanh. Tỷ lệ cơ thể đã rất gần với cơ thể người lớn.

Hình. Sự khác biệt chiều cao và hình dáng của thiếu niên

  • Thanh niên: tính cho đến khi cơ thể hết tuổi trưởng thành (khoảng đến 35 tuổi).

Tốc độ phát triển chiều cao giảm (mỗi năm chiều cao tăng không quá 1,2 cm), cân nặng phát triển bình thường, chủ yếu phát triển về cơ. Đến khoảng 22- 25 tuổi thì chiều cao cơ thể hầu như không tăng nữa. Hình thái cơ thể khá ổn định.

  • Trung niên: tính cho đến khoảng 55 tuổi đối với nữ và 60 tuổi đối với nam.

Cơ thể không cao lên được nữa, bắt dầu xuất hiện những dấu hiệu dầu tiên của tuổi già (tóc bạc, khớp sọ chặt). Một số cơ thể, do xuất hiện lớp mỡ dưới da dặc biệt là ở bụng làm cho bụng to và phình ra phía trước.

  • Về già: tính tuổi tiếp theo cho đến lúc chết.

Cơ thể bất đầu có sự thoái hoá: cột sống cong (lưng gù) tầm hoạt động của khớp giảm đi rõ rệt, da nhăn nheo và kém độ đàn hồi, hoạt động sinh tâm lý kém nhanh nhạy…

>>> Có thể bạn quan tâm: 100 cuốn sách khởi nghiệp đỉnh nhất bỗng chốc thu nhỏ bằng 1 file 25M

     3. Sự khác biệt hình dáng bên ngoài cơ thể người theo giới tính

  • Các đặc điểm quan sát:

Tầm vóc cơ thể nữ giới thường thấp hơn nam giới khoảng 10cm (trong cùng một chủng tộc). Các đường cong trên cơ thể nữ giới mềm mại hơn so với cơ thể nam giới. Lớp mỡ dưới da cơ thể nữ giới phát triển hơn và tập trung ở ngực, hông và đùi.

  • Kích thước và tỷ lệ các kích thước cơ thể:

Chi dưới của cơ thể nữ giới tương đối ngắn hơn, thân dài hơn. Hông nữ bè ngang hơn. Vai xuôi và hẹp hơn. Do lớp mỡ dưới da cổ phát triển nên cổ nữ có dạng tròn hơn so với cổ nam giới. Nếu nhìn nghiêng, đường viền chân cổ của nữ có độ cong lõm vào và thổ hiện rõ hơn so với cơ thể nam giới.

  1. Phân loại hình dáng ngoài của cơ thể người

Mục đích phân loại hình dáng cơ thể người là để nhận biết và có phương pháp diều chỉnh phù hợp khi thiết kế quần áo. Thông thường để phân loại hình dáng cơ thể người thường dựa trên các đặc trưng sau:

a. Theo tỷ lệ kích thước dài của cơ thể

Theo đặc trưng này, người ta chia hình dáng cơ thể người làm 3 dạng: dài, trung bình và ngắn.

  • Dạng dài : được đặc trưng bởi các chi dài và thân ngắn.
  • Dạng ngắn : các chi ngắn và thân dài.
  • Dạng trung bình : là dạng trung bình giữa dạng dài và dạng ngắn.

b. Theo tư thế của cơ thể

Khi phân loại tư thế cơ thể, người ta căn cứ chủ yếu vào độ cong của cột sống và tương quan giữa đường viền phía trước và phía sau của cơ thể. Người ta chia tư thế cơ thể thành 3 loại: cơ thể bình thường, cơ thể gù và cơ thể ưỡn. Đăc điểm hình dạng của 3 dạng cơ thể trẽn như sau:

  • Cơ thể gù: ngực phẳng, lưng dài, rộng và cong, xương bả vai thường nhô cao, cơ bắp phát triển, vai và tay đưa về phía trước một chút, điểm đầu ngực (đầu núm vú) bị dịch chuyển xuống dưới. So với người tư thế bình thường, người gù có chiều dài phần lưng phía sau cơ thể hơn nhưng chiều dài phía trước cơ thể lại nhỏ hơn.
  • Cơ thể ưỡn: ngực và vai rộng, nở nang, lưng phẳng hoặc hơi cong một chút về phía sau, bả vai khổng nhô lên, eo lõm vào, mông phát triển. Điểm đầu ngực được nâng lên phía trên. So với người có tư thế bình thường, chiều dài phía sau nhỏ hơn nhưng chiều dài phía trước lại lớn hơn.

Hình. Các dạng tư thế của cơ thể người 

a. Người bình thường       b. Người gù      c. Người ưỡn

c. Theo mức độ béo gầy (chiều dày của cơ thề)

Thường người ta chia mức dộ béo, gầy của cơ thể người làm 3 dạng : béo, trung bình và gầy. Có hai cách đơn giản để phân loại mức độ béo, gầy :

  • Theo tương quan giữa chiều cao đứng và cân nặng :

     p =0,9(T-100)

Trọng lượng cơ thể tính theo đơn vị là kg (P), chiếm 90% hiệu số của chiều cao đứng tính theo dơn vị là cm (T) và 100. Công thức này áp dụng cho người bình thường, còn nếu trọng lượng ít hơn thì đó là người gầy và ngược lại.

  • Theo tương quan giữa chu vi vòng ngực lớn nhất và vòng bụng (Vn – Vb):

Nếu hiệu của hai kích thước này bằng 14 cm thì dó là cơ thể bình thường, nếu lớn hơn 14 cm thì đó là cơ thể gầy và ngược lại, nếu nhỏ hơn 14 cm thì đó là cơ thể béo.

d. Phân loại theo hình dáng các phần trên cơ thể

  • Vai :

Căn cứ vào độ dốc của đường vai cơ thể, người ta chia thành 3 dạng vai: vai xuôi, vai trung bình và vai ngang (h. 2.2). Để nhân biết đô dốc của vai, người ta thường dùng giá trị dộ lệch chiều cao của điểm góc cổ vai và điểm mỏm cùng vai (lượng xuôi vai – Xv).

Người vai trung bình có Xv = 4,2 -T- 4,8 cm đối với nữ và Xv = 5,2 + 5,8cm đối với nam.

Nếu người có giá trị Xv lớn hơn giá trị trung bình thì đó là người vai xuôi, ngược lại là người vai ngang.

Hình. Các dạng độ dốc vai của cơ thể

a. Vai bình thường        b. Vai xuôi        c. Vai ngang

Căn cứ độ vươn về phía trước của đường vai, người ta chia thành 3 dáng vai: vai bình thường, vai cánh cung và vai ngửa.

Người vai cánh cung thường có hai đầu vai khum về phía trước nhiều hơn, phía sau bả vai độ cong lớn, phía trước ngực phẳng, số đo rộng lưng lớn hơn và số đo rộng ngực nhỏ hơn người bình thường.

Ngưòi vai ngửa có hai đầu vai đưa về phía sau nhiều hơn, lưng gần như phẳng, số đo rộng lưng nhỏ hơn và số đo rộng ngực lớn hơn người bình thường.

>>> Có thể bạn quan tâm: 12 lời khuyên khi sử dụng chức năng quảng cáo bài viết trên Facebook cực hiệu quả

  • Ngực :

Khi quan sát lồng ngực ở mặt chính diện, có thể chia hình dáng của lồng ngực làm 3 loại: lồng ngực tròn, trung bình và dẹt. Trong thực tế 3 loại này thường tương ứng với cơ thể béo, trung bình và gầy.

Khi quan sát ở mặt chiếu cạnh, phần bầu ngực của cơ thể nữ giới được phân ra làm 3 dạng: dạng bán cầu (cơ thể trung bình), dạng ôvan (cơ thể béo) và dạng hình chóp (cơ thể gầy).

  • Hông :

Theo vị trí của điểm nhô ra ngoài nhất của hông khi nhìn chính diện, người ta chia thành: hông cao, hông trung bình và hông thấp. Trong đó, cơ thể có vị trí điểm nhô ra ngoài nhất của hông nằm ở vị trí giữa của đường ngang rốn và ngang háng – hông trung bình. Nếu vị trí điểm nhô ra ngoài nhất của hỏng ở vị trí ngang rốn – hông cao và ở vị trí ngang háng – hông thấp.

  • Chân :

Cãn cứ vào hướng đùi và cảng chân, người ta chia thành: chân thẳng, chân vòng kiềng (chân chữ O) và chân khoèo (chân chữ X).

Theo tư thế của bàn chân so với đùi và cẳng chân khi chuyển động, ta có : chân bình thường, chân chữ bát ngoài và chân chữ bát trong.

[Mời bạn xem tiếp phần 2]

Xuân Nguyễn